Bài giảng Ngữ Văn 8 - Bài 7: Vịnh khoa thi Hương
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ Văn 8 - Bài 7: Vịnh khoa thi Hương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ Văn 8 - Bài 7: Vịnh khoa thi Hương
KHỞI ĐỘNG I. TÌM HIỂU CHUNG 1. Tác giả: Trần Tế Xương(1870- 1907) 一 Thường gọi là Tú Xương. Quê: làng Vị Xuyên, huyện Mĩ 二 Lộc, tỉnh Nam Định. Có hơn 100 bài thơ, chủ yếu là chữ Nôm. Phong cách nổi bật: trữ tình và trào 三 phúng. Là người cá tính, mạnh mẽ, không chịu Trần Tế Xương 四 gò bó trong khuôn phép. Ông học giỏi nhưng chỉ đỗ tú tài . b. Tác phẩm: Hoàn cảnh sáng tác: Chủ đề: Vào khoa thi năm 1897 (năm Phản ánh hiện thực nhốn Đinh Dậu), kì thi Hương ba năm nháo, ô hợp của xã hội diễn ra một lần vốn từ xưa đều thực dân phong kiến buổi được tổ chức ở Hà Nội, nay bị Pháp bãi bỏ và tổ chức chung đầu, đồng thời đồng thời cho thí sinh ở trường Nam Định thể hiện su phẫn uất của thi cùng với thí sinh trường Hà nhà thơ trước tình cảm Nội. Chứng kiến hiện thực đầy nước nhà. bát nháo, đau xót đó, Tú Xương đã sáng tác bài thơ này. Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật Đặc điểm thể loại thất ngôn bát cú Số dòng thơ 8 dòng Số tiếng trong từng dòng 7 tiếng Vần trong các dòng thơ Vần a Nhịp thơ của từng dòng 2/2/3; 4/3 Đề Thực Luận Kết Bố cục: bốn phần Đề Nhà nước ba năm mở một khoa. Giới thiệu về kì thi Trường Nam thi lẫn với trường Hà. Lôi thôi sỹ tử vai đeo lọ, Thực Ậm ọe quan trường miệng thét loa. Cảnh trường thi Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Luận Váy lê quét đất mụ đầm ra. Nhân tài đất Bắc nào ai có, Kết Tâm trạng của nhà thơ Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà. 1. Hai câu đề “Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà.” Nhận xét về cách tổ chức kì thi. Kì thi Hương năm Đinh Dậu 1897 có có gì đặc biệt? 1. Hai câu đề “Nhà nước ba năm mở một khoa, Trường Nam thi lẫn với trường Hà.” Bằng hình thức tự sự tác giả đã kể về thông lệ của kì thi Hương. Ở câu thơ thứ hai tác giả đã sửa dụng từ “lẫn” nằm lột tả chân thực vẻ ô hợp, nhốn nháo, thiếu nghiêm túc trước kì thi Hương quan trọng Bức tranh chân thực diễn tả nền văn học, thi cử đương thời 2 câu thực, 2 câu luận “Lôi thôi sỹ tử vai đeo lọ, Ậm ọe quan trường miệng thét loa. Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra.” PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Hình ảnh Chi tiết Nhận xét Sĩ tử Quan trường Quan sứ mụ đầm PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Nghệ thuật Tác dụng PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 Hình ảnh Chi tiết Nhận xét Sĩ tử lôi thôi, vai đeo lọ Dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác Quan trường ậm oẹ, miệng thét loa Ra oai, nạt nộ Quan sứ được đón rước long trọng Phô trương về hình thức mụ đầm váy lê quét đất Lố bịch, nhố nhăng PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2 Nghệ thuật Tác dụng Sử dụng từ tượng hình, tượng - Gợi lên cho người đọc người nghe sự láo nháo, lộn xộn, ô hợp của trường thi. thanh: lôi thôi, ậm oẹ - Qua đó phản ảnh sự suy vong của nền Sử dụng nghệ thuật đảo ngữ học vấn và sự suy thoái, lỗi thời của đạo Nho Sử dụng nghệ thuật đối: lọng – - Thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm váy, trời-đất; quan sứ-mụ đầm, hạ nhục bọn quan lại, thực dân. đến-ra Hai câu kết “Nhân tài đất Bắc nào ai có, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà” 1. Xác định sắc thái giọng điệu của tác giả trong 2 câu kết? 2. Qua câu kết cũng như cả bài thơ cho thấy thái độ và nỗi lòng của nhà thơ như thế nào trước tình cảnh của đất nước? “Nhân tài đất Bắc nào ai có, Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà” - Giọng thơ trữ tình có tác dụng lay tỉnh lương tâm, lương tri của các sĩ tử. - Việc sử dụng câu hỏi tu từ vừa là lời kêu gọi, nhấn mạnh trách nhiệm của sĩ tử, vừa là lời nói thẳng về sự thật của đất nước đã thôi thúc, thức tỉnh lương tâm, trách nhiệm của tầng lớp tri thức phong kiến bấy giờ.
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_8_bai_7_vinh_khoa_thi_huong.pptx