Bài giảng Ngữ văn Lớp 8 - Bài 5: Nghị luận xã hội - Văn bản: Chiếu dời đô (Tiết 63)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn Lớp 8 - Bài 5: Nghị luận xã hội - Văn bản: Chiếu dời đô (Tiết 63)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn Lớp 8 - Bài 5: Nghị luận xã hội - Văn bản: Chiếu dời đô (Tiết 63)
Thù chồng nợ nước hỏi ai, Đuôi quân tham bạo, diệt loài xâm lăng Mê Linh nổi sóng đất bằng, Hát giang ghi dấu hơn căm đến giờ. - Là ai? Đố ai trên Bạch Đằng Giang, Làm cho cọc nhọn, dọc ngang sáng ngời Phá quân Nam Hán tơi bời, Gươm thần độc lập giữa trời vung lên. - Là ai? Đố ai đánh Tống Bình Chiêm Ba ngày phá vỡ Khâm, Liêm hai thành Ung Châu đổ nát, tan tành Mở đầu Bắc phạt, uy danh vang lừng. - Là ai? Đố ai nổi sáng sông, rừng Đã vui Hàm Tử lại mừng Chương Dương Vân Đồn cướp sạch binh cường Nồi bàng mai phục chặn đường giặc lui? Can trường kháng chiến mười năm Anh hùng áo vải nhiều lần khốn nguy. Gian lao có quản ngại gì, Gươm thần trả lại chính vì quốc dân. - Là ai? Đố ai giải phóng Thăng Long, Nửa đêm trừ tịch, quyết lòng tiến binh. Đống Đa, sông Nhĩ vươn mình Giặc Thanh vỡ mộng cường chinh, tơi bời. - Là ai? Vua nào sau buổi đăng quang Dời Hoa Lư chuyển đô sang La Thành? Bài 5: Nghị luận xã hội Văn bản Tiết 63 - Chiếu dời đô - Lý Công Uẩn- I. Đọc tìm hiểu chung 1. Đọc b. Từ khó Phồn thịnh: chỉ sự dồi dào, tốt đẹp - Thế “rồng cuộn hổ ngồi”: thế đất được coi là đẹp, vương triều xây dựng trên đó sẽ phát triển thịnh vượng Thắng địa: chỉ vùng đất có hình thế, cảnh vật tốt đẹp. Trọng yếu: rất quan trọng, có vai trò cơ bản, mấu chốt 2. Tìm hiểu chung a. Tác giả - Lý Công Uẩn ( 974 - 1028) tức Lý Thái Tổ, người châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang ( Từ Sơn, Bắc Ninh) - Ông là người thông minh, nhân ái, có ý chí, có công lớn sáng lập vương triều nhà Lý Khi mới 20 tuổi, Lý Công Uẩn được đưa vào triều làm một chức quan võ. Vốn là người thông minh, có sức khoẻ và chí lớn, Công Uẩn từ đó ngày càng được tin cậy trong triều, về sau làm tới Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ và trở thành trụ cột của nhà tiền Lê. Vì vậy ngay sau khi Lê Long Đĩnh mất, mọi triều thần mà người chủ xướng là Đào Cam Mộc nhận thấy Lý Công Uẩn là người khoan hòa, nhân thứ và được lòng muôn dân nên đã tôn ông lên làm vua. Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, triều Lý được thành lập. Cuộc chuyển giao triều đại từ họ Lê sang họ Lý đã diễn ra một cách hoà bình. §Òn §« b. Tác phẩm - Hoàn cảnh ra đời: sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn nhận thấy Hoa Lư không còn thích hợp cho việc định đô nên năm 1010 (năm Canh Tuất niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất) ông viết bài chiếu này bày tỏ ý định dời đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình) đến thành Đại La ( HN) - Thể loại: Chiếu: + là thể văn nghị luận cổ do vua dùng để ban bố mệnh lệnh + có thể viết bằng văn vần, văn xuôi, văn biền ngẫu (biền: hai con ngựa kéo xe sóng nhau, ngẫu: từng cặp) + được công bố và đón nhận một cách trang trọng + văn tự : chữ Hán - Phương thức biểu đạt: nghị luận, biểu cảm - Bố cục: 3 phần -> phần 1: đoạn 1: Cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời đô -> phần 2 :đoạn 2 : Lí do chọn Đại La là nơi đóng đô -> phần 3: đoạn 3: Hỏi ý kiến quần thần Nhà vua ban chiếu BảnBản gốc gốc Chiếu Chiếu dời đô đô của vua Lý Thái Tổ trong khối mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ tronglưu khốitrữ quốc mộc gia bản IV triều được dịch ra nhiều thứ tiếng Nguyễn tại Trung tâm lưu trữ quốc gia IV khác nhau. Phong cảnh cố đô Hoa Lư nhìn từ núi Mã Yên XXI Vïng nói Hoa Lư
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_lop_8_bai_5_nghi_luan_xa_hoi_van_ban_chieu.pptx