Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài 24: Nói với con

pptx 34 Trang Thanh Mai 4
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài 24: Nói với con", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài 24: Nói với con

Bài giảng Ngữ văn 7 - Bài 24: Nói với con
 Nói với con
 (Y Phương) I. Tìm hiểu chung
 1. Tác giả
 - Y Phương ( 1948 -2022 ) tên thật là Hứa Vĩnh 
 Sước.
 - Quê quán: Trùng Khánh - Cao Bằng, ông là 
 người dân tộc Tày.
 - Ông nhập ngũ năm 1968, phục vụ trong quân đội 
 đến năm 1981 chuyển về công tác tại Sở văn hóa 
 - thông tin tỉnh Cao Bằng.
 - Năm 1993 là chủ tịch hội văn nghệ Cao Bằng.
 - Năm 2007 ông được nhận giải thưởng nhà nước 
 về Văn học nghệ thuật.
 - Phong cách thơ: Thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh 
 mẽ, trong sang; cách tư duy giàu hình ảnh của người 
 miền núi, mang đậm bản sắc vùng cao. Tác phẩm chính
 Kể tên 
Người núi Hoa (1982); Tiếng hát tháng những tác 
giêng (1986); Lửa hồng một góc (1987); phẩm chính 
 Lời chúc (1991); Đàn then (1996); Thơ Y của ông?
Phương (2002). Người đồng mình thương lắm con ơi
 Cao đo nỗi buồn
 Xa nuôi chí lớn
 Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
 Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
 Sống trong thung không chê thung nghèo đói
 Sống như sông như suối
 Lên thác xuống ghềnh 
Chân phải bước tới cha Không lo cực nhọc
Chân trái bước tới mẹ Người đồng mình thô sơ da thịt
Một bước chạm tiếng nói Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Hai bước tới tiếng cười Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Người đồng mình yêu lắm con ơi Còn quê hương thì làm phong tục
Đan lờ cài nan hoa Con ơi tuy thô sơ da thịt
Vách nhà ken câu hát Lên đường
Rừng cho hoa Không bao giờ nhỏ bé được 
Con đường cho những tấm lòng Nghe con.
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời. (Y Phương – Thơ Việt Nam 1945-1985) 2. Tác phẩm
 Xuất xứ: Bài thơ được sáng tác năm 1980, khi đất nước mới hòa bình 
 thống nhất nhưng gặp rất nhiều khó khăn thiếu thốn. Từ hiện 
 thực ấy, nhà thơ sáng tác bài thơ như lời tâm sự, động viên 
 chính mình đồng thời nhắc nhở con cái sau này.
 Đọc, tìm hiểu chú thích:
 Thể loại: Thơ tự do
 PTBĐ: Biểu cảm P1: Đoạn 1: Cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người
 Bố cục: 2 phần 
 P2: Còn lại: Những đức tính cao đẹp của người đồng 
 mình và mong ước của cha Vợ chồng chúng tôi sinh cô con gái đầu lòng vào giữa năm 1979. Bài thơ “Nói 
với con” tôi viết năm 1980. Đó là thời điểm đất nước ta gặp vô vàn khó khăn. 
Thời kỳ cả nước mới thoát ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ lâu dài và gian 
khổ. Giống như một người mới ốm dậy, xã hội khi ấy bắt đầu xuất hiện người 
tốt, kẻ xấu để tranh giành sự sống. 
Bài thơ với nhan đề là “Nói với con”, đó là lời tâm sự của tôi với đứa con gái 
đầu lòng. Tâm sự với con còn là tâm sự với chính mình. Nguyên do thì nhiều, 
nhưng lý do lớn nhất để bài thơ ra đời chính là lúc tôi dường như không biết lấy 
gì để vịn, để tin. Cả xã hội lúc bấy giờ đang hối hả gấp gáp kiếm tìm tiền bạc. 
Muốn sống đàng hoàng như một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hóa. Phải 
tin vào những giá trị tích cực vĩnh cửu của văn hóa. Chính vì thế, qua bài thơ ấy, 
tôi muốn nói rằng chúng ta phải vượt qua sự ngặt nghèo, đói khổ bằng văn hóa
 Bài thơ 28 câu này được xem như là viết riêng cho đứa con đầu lòng. Ở phạm 
vi hẹp, bài thơ chủ yếu đề cập đến văn hóa dân tộc, nhằm tôn vinh nét đẹp của 
văn hóa truyền thống dân tộc Tày.
 ( Nhà thơ Y Phương: “Nói với con” cũng chính là nói với lòng mình! ) Người đồng mình: người vùng mình, người miền mình. Đây có 
thể hiểu là những người cùng sống trên một miền đất, cùng quê 
hương, cùng một dân tộc. Lờ: một loại dụng cụ dùng để 
 đặt bắt cá, được đan bằng 
 những nan tre vuốt tròn
Thung (thung lũng): dải đất trũng và kéo dài nằm 
giữa hai sườn đồi núi. II. TÌM HIỂU VĂN BẢN: Chân phải bước tới cha
 1. Cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người Chân trái bước tới mẹ
 Một bước chạm tiếng nói
 a. Gia đình:
 Hai bước tới tiếng cười
 + Chân phải Chân trái
 từ ngữ tạo hình, liệt kê
 + Một bước Hai bước
 => gợi liên tưởng đến những bước chân chập chững đầu tiên của một em bé 
 trong sự vui mừng đón chờ của cha mẹ.
 + tiếng nói tiếng cười => phép liệt kê
 => Tái hiện được hình ảnh của một em bé đang ở lứa tuổi bi bô tập nói đồng 
 thời gợi đến khung cảnh của một gia đình đầm ấm, hòa thuận luôn tràn đầy 
 niềm vui, hạnh phúc, tràn đầy tiếng nói, tiếng cười. + tới cha tới mẹ => phép liệt kê
 => Tái hiện hình ảnh em bé đang chập chững tập đi, lúc thì sà vào 
 lòng mẹ, khi lại níu lấy tay cha, gợi lên ánh mắt như đang dõi theo và 
 vòng tay dang rộng đón đợi của cha mẹ.
 + Nhịp thơ 2/3, cấu trúc đối xứng, điệp cấu trúc câu đã tạo nên một âm 
 điệu, không khí vui tươi và gợi đến một mái ấm gia đình hạnh phúc.
Þ Lời thơ giản dị, êm ái như tiếng ru con, như một lời tâm tình thủ thỉ, 
 cha đã nói với con: gia đình chính là cội nguồn sinh thành, nuôi 
 dưỡng con. 
Þ Vì thế, trên hành trình vạn dặm của cuộc đời, con không được phép 
 quên. b. Tình cảm quê hương:
 - Cách gọi độc đáo:
 Người Người vùng mình, người miền mình; người 
 đồng cùng sống trên một miền đất, cùng quê hương, 
 mình cùng một dân tộc.
 - Người cha đã có cách lí giải rất cụ thể về sự đáng yêu của con người 
 quê hương:
 Người đồng mình yêu lắm con 
 ơi
 Đan lờ cài nan hoa
 Vách nhà ken câu hát Đan lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát - Hệ thống hình ảnh giàu sức gợi:
+ “ Đan lờ cài nan hoa”: tả thực công cụ lđ còn thô sơ 
được “người đồng mình” trang trí trở nên đẹp đẽ; gợi đôi 
bàn tay cần cù, khéo léo, tài hoa và giàu sáng tạo của 
“người đồng mình”, đã khiến cho những nan nứa, nan tre 
đơn sơ, thô mộc trở thành “nan hoa”
+ “ Vách nhà ken câu hát”: tả thực lối sinh hoạt văn 
hóa cộng đồng, Vách nhà không chỉ được ken bằng tre 
bằng nứa mà còn đầy ắp những câu hát; gợi một thế giới 
tâm hồn tinh tế và tràn đầy lạc quan của người vùng cao.
+ Các động từ “cài, ken”: đi kèm danh từ “nan hoa, câu 
 Hoà trong vẻ đẹp của núi rừng, những 
hát” vừa miêu tả được động tác khéo léo trong lao động làn điệu Then, những thanh âm của cây 
vừa gợi sự gắn bó trong cuộc sống tràn ngập niềm đàn tính tô điểm cho bức tranh làng bản 
 thanh bình, tôn tạo bản sắc văn hoá và 
vui.của những “người đồng mình”. những nét đẹp trong đời sống của đồng 
 bào các dân tộc anh em phía Bắc. Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng
- H/a tả thực + nhân hóa: gợi vẻ đẹp Nhân hóa => gợi liên tưởng đến những con 
của những rừng hoa mà thiên nhiên, đường trở về làng, về bản; gợi đến tấm lòng 
quê hương ban tặng vừa gợi sự giàu có t/c của “người đồng mình” với GĐ, QH, xứ 
hào phóng của thiên nhiên, quê hương. sở; con đường kết nối yêu thương nhà - nhà.
 Điệp từ “cho” => tấm lòng rộng mở, hào phóng của thiên nhiên, của quê hương sẵn sàng 
 ban tặng tất cả những gì đẹp nhất, tuyệt vời nhất. => Nếu như gia đình là cội nguồn sinh thành, dưỡng dục 
 con thì quê hương bằng truyền thống văn hóa, lao động đã 
 nuôi dưỡng tâm hồn, lẽ sống và chở che cho con thêm khôn 
 lớn, trưởng thành.
Cha nói với con về kỉ niệm ngày cưới
 Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
 Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
 - Nhớ về ngày cưới - Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời => 
 nhớ về kỉ niệm cho sự khởi đầu của một gia đình. Nó là 
 minh chứng cho tình yêu cha mẹ và con chính là kết tinh 
 của tình yêu ấy.
 - hướng tới gia đình - niềm trân trọng thiêng liêng Tình cảm cha mẹ dành cho 
 con: nâng đón, chở che, chăm 
 Nói với con về chút 
 cội nguồn sinh 
 dưỡng Tình cảm quê hương : con 
 trưởng thành trong cuộc sống 
 lao động, trong thiên nhiên thơ 
 mộng, nghĩa tình của quê 
 hương.
=> Đoạn thơ là lời dặn dò, nhắn nhủ tâm tình của người cha về cội nguồn 
sinh thành và nuôi dưỡng con: Gia đình, quê hương chính là nền tảng để tiếp 
bước cho con khôn lớn, trưởng thành. Bởi vậy, con phải luôn sống bằng tất 
cả tình yêu và niềm tự hào. 2. Những đức tính cao đẹp của người đồng mình và mong ước của người cha
 a. Những đức tính cao đẹp của “người đồng mình” 
 “Người đồng mình thương lắm con ơi!”
 - Động từ “thương” đi liền với từ chỉ mức độ “lắm” -> bày tỏ sự đồng cảm với 
những nỗi vất vả, khó khăn của con người quê hương.
 Cao đo nỗi buồn
 Xa nuôi chí lớn
+ cao, xa => tính từ => gợi liên tưởng đến những dãy núi cao, trùng điệp là nơi cư trú 
của đồng bào vùng cao; khó khăn chồng chất khó khăn để thử thách ý chí con người.
 - Hệ thống h/a mang tư duy của người miền núi, khi tác giả lấy chiều cao của trời, 
 của núi để đo nỗi buồn nỗi vất vả; lấy kh/cách xa của đất, của những con đường đèo 
 để đo ý chí con người.
 => Câu thơ đượm chút ngậm ngùi, xót xa để diễn tả thực tại đ/s còn nhiều những 
 khó khăn, thiếu thốn của đồng bào vùng cao. Đồng thời, cũng đầy tự hào trước ý 
 chí, nghị lực vươn lên của họ. Người đồng mình thô sơ da thịt
 Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
- Nghệ thuật tương phản:
+ “H/a thô sơ da thịt” => tả thực vóc dáng, hình hài nhỏ bé của 
“người đồng mình”
+ Cụm từ “chẳng mấy ai nhỏ bé” => gợi ý chí, nghị lực phi thường, 
vượt lên hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của họ
=> đã làm tôn lên vóc dáng (tầm vóc) của “người đồng mình”: họ 
có thể còn “thô sơ da thịt” nhưng họ không hề nhỏ bé, yếu đuối. Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
 Còn quê hương thì làm phong tục
- H/a “tự đục đá kê cao quê hương” vừa mang ý/n tả thực, vừa mang ý/n ẩn dụ sâu 
sắc:
+ Tả thực quá trình dựng nhà, dựng bản của của người vùng cao, được kê trên 
những tảng đá lớn để tránh mối mọt, ẩm thấp.
+ Ẩn dụ cho tinh thần tự lực cánh sinh, họ đã xây dưng và nâng tầm quê hương. 
=> Trong quá trình dựng làng, dựng bản, dựng quê hương ấy, chính họ đã làm nên 
phong tục, bản sắc riêng cho cộng đồng.
ÞCâu thơ tràn đầy niềm tự hào về những phẩm chất đáng quý của người đồng 
 mình.
Þ Từ đó người cha nhắn nhủ, răn dạy con phải biết kế thừa, phát huy những vẻ 
 đẹp của con người quê hương. b. Mong ước của cha
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc. => Điệp từ “sống” => đã tô đậm được mong ước mãnh liệt 
 của cha dành cho con.
 => Hình ảnh ẩn dụ và phép liệt kê “đá ghập ghềnh” và 
 “thung nghèo đói”:
 + Gợi không gian sống hiểm trở, khó làm ăn, canh tác 
 + Gợi đến cuộc sống nhiều vất vả, gian khó và đói nghèo
 => người cha mong muốn con: hãy biết yêu thương, gắn 
 bó, trân trọng quê hương mình.

File đính kèm:

  • pptxbai_giang_ngu_van_7_bai_24_noi_voi_con.pptx