Bài giảng Ngữ Văn Lớp 7 - Chủ đề: Tình yêu nước trong thơ mới - Bài 18: Ông đồ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Ngữ Văn Lớp 7 - Chủ đề: Tình yêu nước trong thơ mới - Bài 18: Ông đồ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bài giảng Ngữ Văn Lớp 7 - Chủ đề: Tình yêu nước trong thơ mới - Bài 18: Ông đồ
CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU NƯỚC TRONG THƠ MỚI ( 05 tiết ) Nhớ rừng Đánh giá chủ CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU NƯỚC Ông đề TRONG đồ THƠ MỚI Câu nghi vấn VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU TK 20 ĐẾN NĂM 1945 CÓ GÌ ĐẶC BIỆT Văn học hình thành hai bộ phận và phân hóa thành nhiều xu hướng, vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển theo xu hướng hiện đại hóa Bộ phận văn học công khai là văn học hợp pháp tồn tại trong vòng luật pháp của của chính quyền thực dân phong kiến. Những tác phẩm này có tính dân Bộ phận văn học không công khai là tộc và tư tưởng lành mạnh nhưng không có ý thức văn học cách mạng, phải lưu hành cách mạng và tinh thần chống đối trực tiếp với bí mật. chính quyền thực dân. Phân hóa thành nhiều xu hướng Xu hướng văn học lãng Xu hướng văn học mạn: Thơ mới ( Thế Lữ, hiện thực ( Nguyễn Hồ Chí Minh, Xuân Diệu, Hàn Mặc Công Hoan, Ngô Tất Tố Hữu Tử, Nguyễn Bính) Tố, Nam Cao) Thơ mới lúc đầu dùng để gọi tên 1 thể thơ: thơ tự do. Nó ra đời khoảng sau năm 1930, các thi sĩ trẻ xuất thân ''Tây học'' lên án thơ cũ (thơ Đường luật khuôn sáo, trói buộc) . Sau thơ mới không còn chỉ để gọi thể thơ tự do mà chủ yếu dùng để gọi 1 phong trào thơ có tính chất lãng mạn (1932 - 1945). Thơ mới: tác giả tiêu biểu Anh Thơ Lưu Trọng Lư Hàn Mặc Tử Nguyễn Bính (1921-2005) (1911-1991) (1912-1930) (1918-1966) Tiết 73,74: ÔNG ĐỒ (Vũ Đình Liên) Đầu năm thường gắn với việc cầu xin những điềm lành, việc lành trong ao ước của con người qua những cuộc hành hương về nơi linh thiêng nhất. Xin chữ,xin câu đối là một trong những hoạt động tâm linh ấy.Nguời viết nên những câu đối ấy chính là những ông đồ Nho học,và bài thơ "Ông đồ" tác giả Vũ Đình Liên viết về những ông đồ Nho thời thịnh vượng và thời tàn lụi. Bài thơ "Ông đồ" và tác giả đã được các báo chí nước ngoài giới thiệu qua gần 10 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Ả Rập... Thật là một bài thơ bất hủ của nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên. Văn bản: ÔNG ĐỒ VŨ ĐÌNH LIÊN I/ Đọc- chú thích: 1/ Tác giả: Vũ Đình Liên (1913 – 1996) - Là nhà thơ lớp đầu tiên của phong trào Thơ Mới - Con người tài năng: nhà thơ lớn, nhà giáo, nhà dịch thuật, nhà nghiên cứu nổi tiếng - Thơ ông nặng lòng thương người và niềm hoài cổ Mỗi năm hoa đào nở Nhưng mỗi năm, mỗi vắng Lại thấy ông đồ già Người thuê viết nay đâu ? Bày mực tàu, giấy đỏ Giấy đỏ buồn không thắm Bên phố đông người qua. Mực đọng trong nghiên sầu. Bao nhiêu người thuê viết Ông đồ vẫn ngồi đấy Tấm tắc ngợi khen tài Qua đường không ai hay Hoa tay thảo những nét Lá vàng rơi trên giấy Như phượng múa, rồng bay. Ngoài giời mưa bụi bay. Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ? Văn bản: ÔNG ĐỒ VŨ ĐÌNH LIÊN 2) Tác phẩm: - Hoàn cảnh sáng tác: Khổ đầu viết vào năm 1935, các khổ còn lại hoàn thiện năm 1936, trong thời kì nền Hán học suy tàn - Xuất xứ: in trên báo Tinh hoa - Thể thơ: Ngũ ngôn. - Phương thức biểu đạt: biểu cảm (kết hợp với tự sự và miêu tả) - Chủ đề: + Tình cảnh đáng thương của ông đồ. + Tình cảm nuối tiếc, xót xa của nhà thơ. - Bố cục: 3 phần + Phần 1: (Khổ 1 + 2): Hình ảnh ông đồ bán chữ trong những năm còn đông khách + Phần 2: (Khổ 3 + 4): Hình ảnh ông đồ trong những mùa xuân ế khách, tàn tạ. + Phần 3: Khổ 5: Cảnh đó, người đâu (Tấm lòng của nhà thơ hoài cổ). Bài thơ "Ông đồ" và tác giả đã được các báo chí nước ngoài giới thiệu qua gần 10 thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Trung, Đức, Thụy Điển, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Ả Rập... Thật là một bài thơ bất hủ của nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên. Văn bản: ÔNG ĐỒ VŨ ĐÌNH LIÊN - Chú thích: + Ông đồ Văn bản: ÔNG ĐỒ VŨ ĐÌNH LIÊN - Chú thích: + Nghiên. + Mực tàu Văn bản: ÔNG ĐỒ VŨ ĐÌNH LIÊN II/ Đọc, tìm hiểu văn bản: 1/ Ông đồ của thời đắc ý (2 khổ đầu): a. Sự xuất hiện của ông đồ: - Thời gian: xuân về, Tết đến, sức sống dào dạt của thiên nhiên đất trời vào xuân. - Không gian: đông vui tấp nập, náo nức lòng người. - Ông đồ: + lại: sự thân thuộc, gần gũi, chờ mong, đón đợi mọi người. + thấy: ông đồ già, mực tàu, giấy đỏ→ hình ảnh bình dị thân thương trong tâm thức người Việt về bức tranh ngày Tết. → Chữ viết của ông là thứ không thể thiếu. Trong một thời gian dài suốt mấy trăm năm, nền Hán học và chữ Nho chiếm một vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa Việt Nam. Học trò học chữ Nho. Học trò học chữ Nho. Chế độ khoa cử phong kiến dùng chữ Nho Cảnh trường thi năm 1895 Các nhà nho là nhân vật trung tâm của đời sống văn hóa dân tộc, được xã hội tôn vinh. Ông đồ là người Nho học nhưng không đỗ đạt, sống thanh bần bằng nghề dạy học
File đính kèm:
bai_giang_ngu_van_lop_7_chu_de_tinh_yeu_nuoc_trong_tho_moi_b.pptx